Một Triển Vọng Đáng Mừng
Một nhà Hiền Triết đã tóm tắt tất cả lịch sử của nhân loại với những lời nầy: "Con người sinh ra, chịu đau khổ và chết."
Nói về sự đau khổ của thế gian, người ta đã từng nghe
nói về một chuyện cổ xưa và đầy ý nghĩa. Đó là truyện tích thái tử Sĩ
Đạt Ta, mà về sau người ta được biết dưới danh hiệu đức Phật, tức là bậc
Toàn Giác. Phụ Vương của Sĩ Đạt Ta là một vị vua rất giàu sang và có
thế lực lớn ở miền Bắc Ấn Độ. Người quyết định truyền ngôi cho Thái Tử,
và muốn giữ Thái Tử ở trong cung, không muốn cho Thái Tử nhìn thấy cảnh
lầm than, đau khổ của người đời. Thái Tử sống từ nhỏ trong cung cấm, và
đến lúc trưởng thành, vua cha mới cưới cho Thái Tử một vị Công Chúa nhan
sắc đẹp tuyệt trần. Từ nhỏ đến lớn, Thái Tử không hề bước chân ra khỏi
bốn vách thành bao bọc chung quanh Hoàng cung một lần nào. Đến lúc Thái
Tử sinh hạ được một hoàng nam, người mới thấy nhàm chán cảnh cung điện
và tọc mạch muốn biết có những gì ở cõi thế gian bên ngoài. Người mới
tìm cách đánh lừa những tên lính gác cửa thành, và lần đầu tiên người
mới nhìn thấy cảnh thành phố tấp nập, dân cư đông đão và cảnh đời thực
tế bên ngoài.
Trong chuyến ngao du đó, người nhìn thấy ba cảnh
tượng làm cho người chú ý: đó là cảnh tượng một người gia, một người
bịnh và một xác chết. Thái tử vô cùng xúc động, bèn hỏi tên đánh xe đi
theo Ngài, tại sao lại có những cảnh đau khổ như thế? Khi được biết rằng
đó là những điều thường vẫn xảy ra hằng ngày và đó là cái số phận chung
cho cả mọi người, không ai tránh khỏi, Thái Tử lấy làm buồn bực vô cùng
đên nỗi Ngài không còn muốn sống cuộc đời sung sướng xa hoa như trước
nữa. Ngài trở về cung, bèn từ giã tất cả mọi gia tài sản nghiệp, gia
đình vợ con, và quyết định xuất gai tầm Đạo để cứu vớt nhân loại và
chúng sinh khỏi sự lầm than đau khổ. Sau nhiều năm khổ công tu luyện và
tham thiền quán tưởng, Ngài bèn thoát nhiên đại ngộ, trở nên một bậc
Toàn Thông, đắc Vô thượng Đạo, chánh đẳng chánh giác, tức là đắc Đạo
thành Phật vậy. Khi đó Ngài mới đem truyền dạy Đạo mầu thoát khổ cho thế
gian.
Chúng ta là những người trần gian phàm tục, không mấy
ai có thể làm giống như Phật Thích Ca, nhất thời dứt bỏ tất cả giàu
sang, quyền thế, danh vọng, tình yêu và hạnh phúc gia đình để theo đuổi
một mục đích mơ màng viễn vông như là việc đi tìm Chân Lý, và tìm hiểu
bí quyết của cuộc Đời! Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta đều có kinh
nghiệm về sự đau khổ ít nhất một vài lần trong đời mình và đã có lúc
phải tự hỏi: Tại sao con người bị đau khổ? Và họ có thể làm gì để thoát
khổ?
Những nhà văn có óc không tưởng đã phác họa một thời
kỳ trong tương lai mà trong bốn điều khổ của đức Phật nêu ra, thì hai
điều sẽ không còn nữa, đó là: Bệnh và lão. Nhưng mặc dầu khoa học hiện
đại đã có bao nhiêu những phát minh mới mẻ tân kỳ, người ta vẫn chưa có
triển vọng tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề mà con người vẫn coi như
là một kẻ thù lớn nhất, đó là Sự Chết! Trong khi chờ đợi, và trong khi
mà một sự cải tạo thế giới trên một bình diện hợp lý hơn vẫn chưa đem
đến cho nhân loại sức khỏe, an ninh, và hạnh phúc, thì chúng ta còn phải
đương đầu với muôn ngàn sự bấp bênh, nguy cơ và đau khổ nó hăm dọa nền
hạnh phúc và sự bằng an trong tâm hồn chúng ta!
Những tai họa thiên nhiên như hỏa hoạn, ngập lụt,
bệnh tật truyền nhiễm, động đất, chiến tranh,... đó chỉ là mới kể một
vài sự hăm dọa từ bên ngoài. Còn nói về đời sống bên trong, tức là về
phần nội tâm thì con người có bao nhiêu những sự yếu đuối, bất toàn, như
sự ích kỷ, ganh ghét, tham lam, thù hận, si mê... Nó là bao nhiêu những
nguồn gốc sinh ra sự đau khổ cho mọi người và cho những kẻ đồng loại ở
chung quanh.
Trong những giờ tươi sáng, khi chúng ta cảm thấy
trong lòng vui vẻ hân hoan vì tiếng nhạc réo rắt dụ dương, hay khi nhìn
thấy cảnh tượng tưng bừng rực rỡ của lúc bình minh, chúng ta cảm thấy
rằng trong vũ trụ hẳn có sự hòa vui và có ẩn dấu một ý nghĩa sâu xa thâm
trầm. Tuy nhiên, khi chúng ta quay trở về cõi đời thực tế với những sự
va chạm phũ phàng, những thất vọng não nề cay đắng, chúng ta không khỏi
nêu ra những câu hỏi tối hậu: Yù nghĩa và mục đích của cuộc đời là gì?
Tôi là ai? Tại sao tôi lại sinh ra ở đây? Tôi sẽ đi về đâu? Tại sao tôi
phải chịu đau khổ? Có những mối liên quan gì giữa tôi với người khác ở
chung quanh? Và giữa con người với cái sức mạnh vô hình huyền bí trong
cõi thiên nhiên nó bao phủ cuộc đời chúng ta, có một mối liên hệ như thế
nào?
Những câu hỏi căn bản đó, nhân loại đã từng nêu ra từ
thuở bao giờ trong những thời đại quá khứ xa xăm. Ngày nào người ta vẫn
chưa tìm ra được câu giải đáp thì tất cả những giải pháp tạm thời để
làm dịu bớt sư đau khổ, dầu là những phương tiện vật chất hay tinh thần,
cũng đều là vô nghĩa và không có ích lợi gì. Ngày nào mà vấn đề đau khổ
của nhân loại vẫn chưa được giải quyết, thì người ta vẫn chưa giải
quyết được gì cả. Ngày nào mà trên thế giới còn có một sinh vật nhỏ mọn
tầm thường nhất đang quằn quại trong đau khổ mà người ta chưa giải thích
nổi lý do, thì người ta cũng vẫn chưa giải thích được điều gì cả, và
quan niệm triết lý của chúng ta về cuộc đời vẫn hãy còn là thiếu sót và
bất toàn.
Từ những thời đại cổ xưa nhất, loài người đã từng nêu
ra những câu hỏi đó. Càng ngẫm nghĩ, họ càng cảm thấy rằng những sự
tranh đấu vất vả đau khổ của con người không phải là vô ích và vô nghĩa
lý như người ta tưởng, mà nó có một ý nghĩa nhờ bởi một sự liên quan lớn
lao nối liền con người và vũ trụ. Hoặc họ đã cảm thấy có sự hiện diện
vô hìn của những đấng Thần Minh trong khu rừng vắng hoặc trên đồi cao và
biết rằng mỗi sinh vật, từ con người đến loài cầm thú, đều có một linh
hồn: Rằng linh hồn đó chỉ là tạm thời sống và chịu đau khổ một lúc ở cõi
hạ giới, và sau khi chết sẽ tìm thấy một đời sống an nhàn và hạnh phúc
hơn. Hoặc họ nghĩ rằng ngoài ra cõi trần gian đau khổ nầy, mà loài người
sống trong sự hỗn tạp pha lẫn cả điều lành và điều dữ, điều thiện và
điều ác, còn có một cõi giới xa xăm nào đó, là nơi thưởng phạt những
hành động của họ Ở thế gian. Những điều tin tưởng và giải thích như trên
đã từng được nêu ra kể đến hằng nghìn, có những điều hãy còn giản dị
thô sơ, có những điều tế nhị hơn, cũng có những điều hợp lý. Và vì bởi
một vài điều giải thích đó có vẻ hợp lý mà trên thế gian con người vẫn
tiếp tục sống và đương đầu với những nỗi khó khăn của họ một cách can
đảm.
Có người tin tưởng ở đức Mahomet, có người tin tưởng ở
đức Phật, hoặc Chúa Jesus, hay đức Krishnạ Có hằng muôn người tin rằng
đời người có thể giải thích bằng một lý do duy nhất, đó là sự sống còn.
Những người khác không cần tìm biết lý do gì cả, mà chỉ tận hưởng sự vui
sướng khoái lạc trong hiện tại.
Đối với những người sinh trưởng trong nền giáo dục và
tín ngưỡng đạo Gia Tô, thì sự giải thích về đời người và những sự đau
khổ của cuộc đời là nhứ thế này: Con người có một linh hồn và linh hồn
vốn bất diệt; sự đau khổ là một thử thách đưa đến cho chúng ta, Thiên
Đàng hay Địa Ngục là những điều tưởng phạt tùy theo cách hành động và cư
xử của chúng ta trên thế gian. Những người đã từng chấp nhận sự giải
thích đó không hề tự hào rằng họ có đủ bằng chứng; đó là sự giải thích
mà họ được hấp thụ của cha mẹ và của giáo sĩ, chính những vị này cũng đã
hấp thụ của những bậc phụ huynh và các giáo sĩ của họ, và cứ như thế đi
ngược thời gian cho đến khi người ta tìm thấy uy quyền của một quyển
sách gọi là bộ Thánh Kinh (Bible), và của một người tên Jesus.
Hầu hết mọi người đều đồng ý: Bộ sách này thật là hay
tuyệt diệu, và đức Jesus, dầu rằng là một người hay là Con của Chúa
Trời, vốn là một nhân vật phi thường. Tuy nhiên, kể từ thời Phục Hưng
(Renaissance) cho đến nay, người Tây phương càng ngày càng trở nên hoài
nghi đối với những tín điều căn cứ trên uy quyền của một người: Bất cứ
tín điều nào mà không thể chứng minh được qua cái lò thí nghiệm khoa học
đều phải gặp một sự hoài nghi mỗi lúc càng tăng thêm.
Nhà thiên văn học Ptolémée nói rằng mặt Trời xoay
chung quanh Trái Đất; và đó là điều mà Hội Thánh Gia Tô đã chấp nhận và
truyền dạy. Tuy nhiên, nhà Thiên văn Copernic đã phát minh ra những khí
cụ thiên văn học để chứng minh rằng trái lại, chính Trái Đất xoay chung
quanh mặt Trời. Triết gai Aristote nói rằng nếu người ta làm rơi cùng
một lượt hai vật có trọng lượng khác nhau từ chỗ cao, vật nặng hơn sẽ
rơi xuống đất trước tiên, và Hội Thánh đã hoàn toàn chấp nhận nền triết
học cùng sự phát minh khoa học của Aristotẹ Tuy thế, với một cuộc thí
nghiệm giản dị từ trên đài nghiêng ở thành phố Pise, Galiée đã chứng
minh rằng hai vật cùng đồng một dung tích như nhau, nhưng trọng lượng
khác nhau, lại rơi xuống đất cùng một lúc.
Trong bộ Thánh Kinh có nhiều đoạn cho rằng Trái Đất
vốn bằng phẳng; tuy nhiên Christophe Colomb và Magellan cùng những nhà
thám hiểm khác nữa của thế kỷ mười lăm đã làm đảo lộn giả thuyêt trên
đây bằng những chuyến du hành trên mặt biển, khởi hành từ phương Tây để
đi về phương Đông. Những sự chứng minh trên đây cùng với việc chứng minh
khác nữa đã lần lần chỉ cho người thời xưa không phải là hoàn toàn
đúng. Do đó nảy sinh ra quan niệm khoa học và óc hoài nghi của người
thời nay.
Trong sự tranh đấu để sống còn, con người không thể
tránh khỏi sự đau khổ. Sự đau khổ này, dường như người ta không tìm ra
lý do nào khác hơn là nó không có mục đích gì cả. Sự chết chỉ là một sự
tan rã của những phân tử hóa học vật chất, ngoài ra không còn gì nữa.
Như vậy, người ta đã thay thế uy quyền của bộ Thánh
Kinh hay của đức Giáo Chủ bằng uy quyền của năm giác quan! Với những ống
kính hiển vi, viễn vọng kính, quang tuyến X, máy radar và những phát
minh tối tân khác, khoa học đã nới rộng tầm hoạt động của ngũ quan chúng
tạ Sự nhận xét bằng ngũ quan, tức thị giác, thính giác, vị giác, khứu
giác, xúc giác, là nền tảng của mọi lý luận khoa học.
Tuy nhiên, trải qua vài chục năm nay, người ta đã trở
nên phức tạp hơn và hoài nghi hơn đối với những điều họ hiểu biết hoặc
tưởng rằng mình đã hiểu biết. Những khí cụ khoa học mà người ta đã phát
minh ra, đã chỉ cho họ thấy một cách mỉa mai rằng những giác quan của
con người thật là thiếu sos1st, bất toàn là dường nào và không thể giúp
chúng ta hiểu biết vũ trụ một cách thật sự. Những luồng sóng
Hertziennes, chất phóng quang, nguyên tử lực, đó là chỉ mới kể có một
vài hiện tượng khoa học của thời buổi hiện đại, đã chứng minh một cách
rõ ràng rằng chung quanh chúng ta có những luồng âm ba rung động và
những mãnh lực vô hình; và những vi tử nhỏ bé nhất của cõi vật chất đều
là những kho chứa đựng tinh lực, hàm xúc tiềm tàng một sức mạnh kinh
khủng mà con người không thể tưởng tượng. Chúng ta biết rằng những giác
quan như tai, mắt... Mà chúng ta dùng để tiếp xúc với ngoại giới, cũng
ví như những cửa sổ nhỏ hẹp của cái tòa nhà bé nhỏ là xác thân của chúng
tạ Sự nhậy cảm của con mắt chúng ta đối với ánh sáng giúp chúng ta tiếp
nhận chỉ có một phần nhỏ những luồng âm ba rung động của ánh sáng. Sự
thụ cảm của lỗ tai ta đối với âm thanh chỉ giúp cho chúng ta tiếp nhận
có một bát độ nhỏ hẹp trong cái biển âm thanh rộng lớn của vũ trụ. Nhiều
loại thú cầm, chim muông, côn trùng, sâu bọ có những thị giác, thính
giác và khứu giác khác hẳn của loài người; bởi đó vũ trụ của chúng nó
bao hàm chứa đựng nhiều sự vật mà chúng ta không nhận thấy và không thể
nhận xét thấy rõ.
Người biết suy nghĩ không khỏi lấy làm ngạc nhiên về
hiện tượng này là con người vốn thường vẫn tự hào về trí óc thông minh
của mình, lại thua kém loài cầm thú, chim muông và sâu bọ về tầm hoạt
động của giác quan để nhận xét vũ trụ bên ngoài, và về điểm này họ cũng
thua kém cả những đồ dụng cụ khoa học mà trí óc siêu việt thông minh của
họ đã phát minh. Họ bắt đầu tự hỏi rằng làm sao họ có thể tự mình nhìn
thấy và quan sát những sự vật trong cõi vô hình mênh mông rộng lớn. Thí
dụ, chúng ta hãy tưởng tượng rằng chúng ta có thể nới rộng tầm hoạt động
và nhận xét của giác quan đến mức làm cho chúng ta trở nên nhậy cảm hơn
đối với ánh sáng và âm thanh, dẫu rằng chỉ hơn mức thường độ một ít mà
thôi. Phải chăng chúng ta sẽ nhận xét được nhiều sự vật mà trước kia
chúng ta không hề nghe, thấy? Hoặc thí dụ như một vài người trong chúng
ta bẩm sinh ra đã có những giác quan phi thường, với một tầm thu nhận
rộng lớn hơn: Phải chăng là một điều tự nhiên nếu những người này có thể
nghe và thấy những sự vật mà chúng ta không thấy và không nghẻ Và phải
chăng họ có thể nghe xa chẳng khác nào như một cái máy thu thanh, và
thấy xa dường như một cái máy vô tuyến truyền hình?
Đứng trước cái thế giới vô hình huyền bí, vô tận bao
la mà những khí cụ khoa học tối tân của thế kỷ 20 đã tiết lộ cho chúng
ta biết, thì người ta phải nhìn nhận sự thật của những điều kể trên. Và
nếu chúng ta nhìn lui về lịch sử loài người, thì chúng ta thấy có nhiều
trường hợp đặc biệt được ghi chép về những khả năng nhận xét phi thường
của một số người.
Một trong những người đó là ông Swedenborg, nhà bác
học và toán học trứ danh của thế kỷ 18, đã có một năng khiếu thần thông
phi thường. Người ta được biết rõ một chuyện về năng khiếu thần thông
của ông, chuyện này đã được nhiều nhà tai mắt chứng kiến trong số đó có
nhà triết học Emmanuel Kant.
Một buổi chiều vào khoảng 6 giờ, ông Swedenborg đang
ngồi dùng cơm với vài người bạn ở thành phố Gothenburg, bỗng nhiên ông
giựt mình và nói rằng một cơn hỏa hoạn lớn đang xảy ra ở Stockholm là
chỗ ông ở, cách đó độ 500 cây số. Sau đó một lát, ông tuyên bố rằng ngọn
lửa đã thiêu hủy ngôi nhà của một người láng giềng và hăm dọa cháy lan
đến ngôi nhà của ông. Đến 8 giờ, cũng chiều hôm đó, ông cho biết, với
một giọng nói đã trấn tĩnh, rằng ngọn lửa đã được dập tắt ở khoảng cách
nhà ông độ vài ba gian nhà khác. Hai ngày sau, những lời của ông
Swedenborg đã được xác nhận bằng những lời tường thuật về cuộc hỏa hoạn,
mà sự bộc phát nhằm đúng ngay vào lúc ông Swedenborg giựt mình và có
cảm giác đầu tiên về cơn tai biến này. Đây không phải là trường hợp duy
nhất: Tiểu sử của nhiều nhân vật tên tuổi cũng đã ghi chép hàng trăm
trường hợp tương tự, trong số đó có vài người như Mark Twain, Abraham
Lincoln, St. Saens,... Trong vài trường hợp, chính những người bà con
thân quyến của họ đã có lúc nhìn thấy thình lình những hình ảnh lạ lùng
về những sự việc xảy ra ở cách rất xa, hoặc sẽ xảy ra trong nhiều tháng
hay nhiều năm về sau, với đầy đủ từng chi tiết.
Nói về trường hợp ông Swedenborg thì năng khiếu thần
nhãn của ông từ đó trở nên một thứ giác quan mạnh mẽ phi thường và liên
tục. Trong phần nhiều những trường hợp khác, năng khiếu đó hình như chỉ
biểu lộ trong một lúc nhất định khi đương sự tạm thời rơi vào một trạng
thái xuất thần.
Người Tây phương thường có khuynh hướng đón nhận
những sự việc kể trên với một thái độ hoài nghi và thậm chí với ít nhiều
cử chỉ khinh thường. Tuy nhiên, nay đã đến lúc mà người ta không thể
nhìn xem những hiện tượng đó một cách khinh rẻ như thế được nữa. Đối với
những người có một tinh thần cởi mở, saün sàng tìm hiểu những hiện
tượng lạ lùng, đối với những người thông hiểu các trào lưu khoa học và
sự nhu cầu của thế hệ thì bất cứ sự việc gì có liên hệ đến những khả
năng lạ lùng huyền bí của con người đều có tánh cách lý thú và có một
tầm quan trọng vào bậc nhất.
Trong số những nhà thông thái có tầm kiến thức rộng
rãi, cho rằng những hiện tượng thần bí, siêu nhiên, đáng được nghiên cứu
bằng phương pháp khoa học, và đã ra công sưu tầm về những hiện tượng
đó, có bác sĩ J. B. Rhine, giáo sư trường Đại Học Dukẹ Từ năm 1930, bác
sĩ Rhine và những người cộng sự với ông đã nghiên cứu ráo riết về những
hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiếu Thần Nhãn trong con người.
Do những cuộc thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ và
một phương pháp đặc biệt, bác sĩ Rhine đã khám phá được một điều là
trong phòng thí nghiệm, có nhiều người đã biểu lộ những khả năng cảm xúc
bằng giác quan siêu đẳng, nói tóm tắt là biểu lộ những năng khiếu thần
thông. Người ta có thể nhìn thấy những chi tiết về phương pháp thí
nghiệm và những kết quả sưu tầm của bác sĩ Rhine trong quyển sách nhan
đề "Tầm Hoạt Động Của Trí Não" do chính ông xuất bản năm 1947.
Những nhà sưu tầm khác như Warcollier ở Pháp, Kotik ở
Nga và Tichner ở Đức, với những phương pháp thí nghiệm tương tự, cũng
đã đi đến những kết luận giống như của bác sĩ J. B. Rhinẹ Những bằng
chứng khoa học hiển nhiên đã giải tán mọi điều nghi ngờ về sự thật của
những hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiều Thần Nhãn trên địa hạt
tâm linh con người. Tuy thế, cho đến nay khoa học chỉ mới chứng minh
rằng hiện tượng Thần Nhãn là một điều có thật. Người ta vẫn chưa tìm
cách áp dụng năng khiếu đó trên địa hạt thực tế. Nếu con người có được
cái năng khiếu thần thông đó, nó giúp cho y nhìn thấy được những gì xảy
ra trong không gian mà không cần sử dụng đến cặp mắt phàm, chẳng khác
nào y như là một cái máy vô tuyến thu ảnh (Television) thì chừng đó y đã
có được một khí cụ mới và quan trọng để thu hoạch những điều hiểu biết
về con người và về vũ trụ.
Trải qua nhiều thế kỷ, con người đã làm được nhiều
công trình lớn lao. Sự khôn ngoan khéo léo của y đã giúp y chinh phục
không gian và làm chủ được cõi giới vật chất. Nhưng mặc dầu y đã có được
sự khôn ngoan khéo léo đó, y vẫn là một vật yếu đuối và bất toàn. Mặc
dầu những sự chinh phục trên địa hạt vật chất, y vẫn còn bất lực và bỡ
ngỡ, lạc loài. Mặc dầu y đã thu hoạch được những kết quả thành tựu mỹ
mãn trên các lĩnh vực nghệ thuật, văn hóa và khoa học, y vẫn chưa tìm ra
ý nghĩa và mục đích của sự đau khổ mà con người phải chịu từ khi sinh
ra cho đến khi y từ giã cõi đời. Trong thời gian qua, con người đã tìm
ra những bí mật của hột nguyên tử. Có lẽ nhờ những sự khám phá gần đây
về những khả năng cảm xúc bằng giác quan siêu đẳng của con người và
những mối liên quan lạ kỳ giữa ý thức và tiềm thức, y sẽ có thể tiến sâu
vào lĩnh vực tâm linh huyền bí của chính mình. Sau nhiều thế kỷ dọ dẫm
tìm tòi, có lẽ sau cùng người ta sẽ tìm ra những câu giải đáp thỏa đáng
cho những điều bí hiểm quan trọng của đời người, những lý do vì sao y
sinh ra ở cõi thế gian và mục đích cùng ý nghĩa của sự đau khổ.
Những
Bí Ẩn Của Cuộc Đời Tác giả: Dale Carnegie Dịch giả: Nguyễn Hữu Kiệt ---
o0o --- Phần 1 Chương 1 Một Triển Vọng Đáng Mừng Một nhà Hiền Triết đã
tóm tắt tất cả lịch sử của nhân loại với những lời nầy: "Con người sinh
ra, chịu đau khổ và chết." Nói về sự đau khổ của thế gian, người ta đã
từng nghe nói về một chuyện cổ xưa và đầy ý nghĩa. Đó là truyện tích
thái tử Sĩ Đạt Ta, mà về sau người ta được biết dưới danh hiệu đức Phật,
tức là bậc Toàn Giác. Phụ Vương của Sĩ Đạt Ta là một vị vua rất giàu
sang và có thế lực lớn ở miền Bắc Ấn Độ. Người quyết định truyền ngôi
cho Thái Tử, và muốn giữ Thái Tử ở trong cung, không muốn cho Thái Tử
nhìn thấy cảnh lầm than, đau khổ của người đời. Thái Tử sống từ nhỏ
trong cung cấm, và đến lúc trưởng thành, vua cha mới cưới cho Thái Tử
một vị Công Chúa nhan sắc đẹp tuyệt trần. Từ nhỏ đến lớn, Thái Tử không
hề bước chân ra khỏi bốn vách thành bao bọc chung quanh Hoàng cung một
lần nào. Đến lúc Thái Tử sinh hạ được một hoàng nam, người mới thấy nhàm
chán cảnh cung điện và tọc mạch muốn biết có những gì ở cõi thế gian
bên ngoài. Người mới tìm cách đánh lừa những tên lính gác cửa thành, và
lần đầu tiên người mới nhìn thấy cảnh thành phố tấp nập, dân cư đông đão
và cảnh đời thực tế bên ngoài. Trong chuyến ngao du đó, người nhìn thấy
ba cảnh tượng làm cho người chú ý: đó là cảnh tượng một người gia, một
người bịnh và một xác chết. Thái tử vô cùng xúc động, bèn hỏi tên đánh
xe đi theo Ngài, tại sao lại có những cảnh đau khổ như thế? Khi được
biết rằng đó là những điều thường vẫn xảy ra hằng ngày và đó là cái số
phận chung cho cả mọi người, không ai tránh khỏi, Thái Tử lấy làm buồn
bực vô cùng đên nỗi Ngài không còn muốn sống cuộc đời sung sướng xa hoa
như trước nữa. Ngài trở về cung, bèn từ giã tất cả mọi gia tài sản
nghiệp, gia đình vợ con, và quyết định xuất gai tầm Đạo để cứu vớt nhân
loại và chúng sinh khỏi sự lầm than đau khổ. Sau nhiều năm khổ công tu
luyện và tham thiền quán tưởng, Ngài bèn thoát nhiên đại ngộ, trở nên
một bậc Toàn Thông, đắc Vô thượng Đạo, chánh đẳng chánh giác, tức là đắc
Đạo thành Phật vậy. Khi đó Ngài mới đem truyền dạy Đạo mầu thoát khổ
cho thế gian. Chúng ta là những người trần gian phàm tục, không mấy ai
có thể làm giống như Phật Thích Ca, nhất thời dứt bỏ tất cả giàu sang,
quyền thế, danh vọng, tình yêu và hạnh phúc gia đình để theo đuổi một
mục đích mơ màng viễn vông như là việc đi tìm Chân Lý, và tìm hiểu bí
quyết của cuộc Đời! Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta đều có kinh
nghiệm về sự đau khổ ít nhất một vài lần trong đời mình và đã có lúc
phải tự hỏi: Tại sao con người bị đau khổ? Và họ có thể làm gì để thoát
khổ? Những nhà văn có óc không tưởng đã phác họa một thời kỳ trong tương
lai mà trong bốn điều khổ của đức Phật nêu ra, thì hai điều sẽ không
còn nữa, đó là: Bệnh và lão. Nhưng mặc dầu khoa học hiện đại đã có bao
nhiêu những phát minh mới mẻ tân kỳ, người ta vẫn chưa có triển vọng tìm
ra phương pháp giải quyết vấn đề mà con người vẫn coi như là một kẻ thù
lớn nhất, đó là Sự Chết! Trong khi chờ đợi, và trong khi mà một sự cải
tạo thế giới trên một bình diện hợp lý hơn vẫn chưa đem đến cho nhân
loại sức khỏe, an ninh, và hạnh phúc, thì chúng ta còn phải đương đầu
với muôn ngàn sự bấp bênh, nguy cơ và đau khổ nó hăm dọa nền hạnh phúc
và sự bằng an trong tâm hồn chúng ta! Những tai họa thiên nhiên như hỏa
hoạn, ngập lụt, bệnh tật truyền nhiễm, động đất, chiến tranh,... đó chỉ
là mới kể một vài sự hăm dọa từ bên ngoài. Còn nói về đời sống bên
trong, tức là về phần nội tâm thì con người có bao nhiêu những sự yếu
đuối, bất toàn, như sự ích kỷ, ganh ghét, tham lam, thù hận, si mê... Nó
là bao nhiêu những nguồn gốc sinh ra sự đau khổ cho mọi người và cho
những kẻ đồng loại ở chung quanh. Trong những giờ tươi sáng, khi chúng
ta cảm thấy trong lòng vui vẻ hân hoan vì tiếng nhạc réo rắt dụ dương,
hay khi nhìn thấy cảnh tượng tưng bừng rực rỡ của lúc bình minh, chúng
ta cảm thấy rằng trong vũ trụ hẳn có sự hòa vui và có ẩn dấu một ý nghĩa
sâu xa thâm trầm. Tuy nhiên, khi chúng ta quay trở về cõi đời thực tế
với những sự va chạm phũ phàng, những thất vọng não nề cay đắng, chúng
ta không khỏi nêu ra những câu hỏi tối hậu: Yù nghĩa và mục đích của
cuộc đời là gì? Tôi là ai? Tại sao tôi lại sinh ra ở đây? Tôi sẽ đi về
đâu? Tại sao tôi phải chịu đau khổ? Có những mối liên quan gì giữa tôi
với người khác ở chung quanh? Và giữa con người với cái sức mạnh vô hình
huyền bí trong cõi thiên nhiên nó bao phủ cuộc đời chúng ta, có một mối
liên hệ như thế nào? Những câu hỏi căn bản đó, nhân loại đã từng nêu ra
từ thuở bao giờ trong những thời đại quá khứ xa xăm. Ngày nào người ta
vẫn chưa tìm ra được câu giải đáp thì tất cả những giải pháp tạm thời để
làm dịu bớt sư đau khổ, dầu là những phương tiện vật chất hay tinh
thần, cũng đều là vô nghĩa và không có ích lợi gì. Ngày nào mà vấn đề
đau khổ của nhân loại vẫn chưa được giải quyết, thì người ta vẫn chưa
giải quyết được gì cả. Ngày nào mà trên thế giới còn có một sinh vật nhỏ
mọn tầm thường nhất đang quằn quại trong đau khổ mà người ta chưa giải
thích nổi lý do, thì người ta cũng vẫn chưa giải thích được điều gì cả,
và quan niệm triết lý của chúng ta về cuộc đời vẫn hãy còn là thiếu sót
và bất toàn. Từ những thời đại cổ xưa nhất, loài người đã từng nêu ra
những câu hỏi đó. Càng ngẫm nghĩ, họ càng cảm thấy rằng những sự tranh
đấu vất vả đau khổ của con người không phải là vô ích và vô nghĩa lý như
người ta tưởng, mà nó có một ý nghĩa nhờ bởi một sự liên quan lớn lao
nối liền con người và vũ trụ. Hoặc họ đã cảm thấy có sự hiện diện vô hìn
của những đấng Thần Minh trong khu rừng vắng hoặc trên đồi cao và biết
rằng mỗi sinh vật, từ con người đến loài cầm thú, đều có một linh hồn:
Rằng linh hồn đó chỉ là tạm thời sống và chịu đau khổ một lúc ở cõi hạ
giới, và sau khi chết sẽ tìm thấy một đời sống an nhàn và hạnh phúc hơn.
Hoặc họ nghĩ rằng ngoài ra cõi trần gian đau khổ nầy, mà loài người
sống trong sự hỗn tạp pha lẫn cả điều lành và điều dữ, điều thiện và
điều ác, còn có một cõi giới xa xăm nào đó, là nơi thưởng phạt những
hành động của họ Ở thế gian. Những điều tin tưởng và giải thích như trên
đã từng được nêu ra kể đến hằng nghìn, có những điều hãy còn giản dị
thô sơ, có những điều tế nhị hơn, cũng có những điều hợp lý. Và vì bởi
một vài điều giải thích đó có vẻ hợp lý mà trên thế gian con người vẫn
tiếp tục sống và đương đầu với những nỗi khó khăn của họ một cách can
đảm. Có người tin tưởng ở đức Mahomet, có người tin tưởng ở đức Phật,
hoặc Chúa Jesus, hay đức Krishnạ Có hằng muôn người tin rằng đời người
có thể giải thích bằng một lý do duy nhất, đó là sự sống còn. Những
người khác không cần tìm biết lý do gì cả, mà chỉ tận hưởng sự vui sướng
khoái lạc trong hiện tại. Đối với những người sinh trưởng trong nền
giáo dục và tín ngưỡng đạo Gia Tô, thì sự giải thích về đời người và
những sự đau khổ của cuộc đời là nhứ thế này: Con người có một linh hồn
và linh hồn vốn bất diệt; sự đau khổ là một thử thách đưa đến cho chúng
ta, Thiên Đàng hay Địa Ngục là những điều tưởng phạt tùy theo cách hành
động và cư xử của chúng ta trên thế gian. Những người đã từng chấp nhận
sự giải thích đó không hề tự hào rằng họ có đủ bằng chứng; đó là sự giải
thích mà họ được hấp thụ của cha mẹ và của giáo sĩ, chính những vị này
cũng đã hấp thụ của những bậc phụ huynh và các giáo sĩ của họ, và cứ như
thế đi ngược thời gian cho đến khi người ta tìm thấy uy quyền của một
quyển sách gọi là bộ Thánh Kinh (Bible), và của một người tên Jesus. Hầu
hết mọi người đều đồng ý: Bộ sách này thật là hay tuyệt diệu, và đức
Jesus, dầu rằng là một người hay là Con của Chúa Trời, vốn là một nhân
vật phi thường. Tuy nhiên, kể từ thời Phục Hưng (Renaissance) cho đến
nay, người Tây phương càng ngày càng trở nên hoài nghi đối với những tín
điều căn cứ trên uy quyền của một người: Bất cứ tín điều nào mà không
thể chứng minh được qua cái lò thí nghiệm khoa học đều phải gặp một sự
hoài nghi mỗi lúc càng tăng thêm. Nhà thiên văn học Ptolémée nói rằng
mặt Trời xoay chung quanh Trái Đất; và đó là điều mà Hội Thánh Gia Tô đã
chấp nhận và truyền dạy. Tuy nhiên, nhà Thiên văn Copernic đã phát minh
ra những khí cụ thiên văn học để chứng minh rằng trái lại, chính Trái
Đất xoay chung quanh mặt Trời. Triết gai Aristote nói rằng nếu người ta
làm rơi cùng một lượt hai vật có trọng lượng khác nhau từ chỗ cao, vật
nặng hơn sẽ rơi xuống đất trước tiên, và Hội Thánh đã hoàn toàn chấp
nhận nền triết học cùng sự phát minh khoa học của Aristotẹ Tuy thế, với
một cuộc thí nghiệm giản dị từ trên đài nghiêng ở thành phố Pise, Galiée
đã chứng minh rằng hai vật cùng đồng một dung tích như nhau, nhưng
trọng lượng khác nhau, lại rơi xuống đất cùng một lúc. Trong bộ Thánh
Kinh có nhiều đoạn cho rằng Trái Đất vốn bằng phẳng; tuy nhiên
Christophe Colomb và Magellan cùng những nhà thám hiểm khác nữa của thế
kỷ mười lăm đã làm đảo lộn giả thuyêt trên đây bằng những chuyến du hành
trên mặt biển, khởi hành từ phương Tây để đi về phương Đông. Những sự
chứng minh trên đây cùng với việc chứng minh khác nữa đã lần lần chỉ cho
người thời xưa không phải là hoàn toàn đúng. Do đó nảy sinh ra quan
niệm khoa học và óc hoài nghi của người thời nay. Trong sự tranh đấu để
sống còn, con người không thể tránh khỏi sự đau khổ. Sự đau khổ này,
dường như người ta không tìm ra lý do nào khác hơn là nó không có mục
đích gì cả. Sự chết chỉ là một sự tan rã của những phân tử hóa học vật
chất, ngoài ra không còn gì nữa. Như vậy, người ta đã thay thế uy quyền
của bộ Thánh Kinh hay của đức Giáo Chủ bằng uy quyền của năm giác quan!
Với những ống kính hiển vi, viễn vọng kính, quang tuyến X, máy radar và
những phát minh tối tân khác, khoa học đã nới rộng tầm hoạt động của ngũ
quan chúng tạ Sự nhận xét bằng ngũ quan, tức thị giác, thính giác, vị
giác, khứu giác, xúc giác, là nền tảng của mọi lý luận khoa học. Tuy
nhiên, trải qua vài chục năm nay, người ta đã trở nên phức tạp hơn và
hoài nghi hơn đối với những điều họ hiểu biết hoặc tưởng rằng mình đã
hiểu biết. Những khí cụ khoa học mà người ta đã phát minh ra, đã chỉ cho
họ thấy một cách mỉa mai rằng những giác quan của con người thật là
thiếu sos1st, bất toàn là dường nào và không thể giúp chúng ta hiểu biết
vũ trụ một cách thật sự. Những luồng sóng Hertziennes, chất phóng
quang, nguyên tử lực, đó là chỉ mới kể có một vài hiện tượng khoa học
của thời buổi hiện đại, đã chứng minh một cách rõ ràng rằng chung quanh
chúng ta có những luồng âm ba rung động và những mãnh lực vô hình; và
những vi tử nhỏ bé nhất của cõi vật chất đều là những kho chứa đựng tinh
lực, hàm xúc tiềm tàng một sức mạnh kinh khủng mà con người không thể
tưởng tượng. Chúng ta biết rằng những giác quan như tai, mắt... Mà chúng
ta dùng để tiếp xúc với ngoại giới, cũng ví như những cửa sổ nhỏ hẹp
của cái tòa nhà bé nhỏ là xác thân của chúng tạ Sự nhậy cảm của con mắt
chúng ta đối với ánh sáng giúp chúng ta tiếp nhận chỉ có một phần nhỏ
những luồng âm ba rung động của ánh sáng. Sự thụ cảm của lỗ tai ta đối
với âm thanh chỉ giúp cho chúng ta tiếp nhận có một bát độ nhỏ hẹp trong
cái biển âm thanh rộng lớn của vũ trụ. Nhiều loại thú cầm, chim muông,
côn trùng, sâu bọ có những thị giác, thính giác và khứu giác khác hẳn
của loài người; bởi đó vũ trụ của chúng nó bao hàm chứa đựng nhiều sự
vật mà chúng ta không nhận thấy và không thể nhận xét thấy rõ. Người
biết suy nghĩ không khỏi lấy làm ngạc nhiên về hiện tượng này là con
người vốn thường vẫn tự hào về trí óc thông minh của mình, lại thua kém
loài cầm thú, chim muông và sâu bọ về tầm hoạt động của giác quan để
nhận xét vũ trụ bên ngoài, và về điểm này họ cũng thua kém cả những đồ
dụng cụ khoa học mà trí óc siêu việt thông minh của họ đã phát minh. Họ
bắt đầu tự hỏi rằng làm sao họ có thể tự mình nhìn thấy và quan sát
những sự vật trong cõi vô hình mênh mông rộng lớn. Thí dụ, chúng ta hãy
tưởng tượng rằng chúng ta có thể nới rộng tầm hoạt động và nhận xét của
giác quan đến mức làm cho chúng ta trở nên nhậy cảm hơn đối với ánh sáng
và âm thanh, dẫu rằng chỉ hơn mức thường độ một ít mà thôi. Phải chăng
chúng ta sẽ nhận xét được nhiều sự vật mà trước kia chúng ta không hề
nghe, thấy? Hoặc thí dụ như một vài người trong chúng ta bẩm sinh ra đã
có những giác quan phi thường, với một tầm thu nhận rộng lớn hơn: Phải
chăng là một điều tự nhiên nếu những người này có thể nghe và thấy những
sự vật mà chúng ta không thấy và không nghẻ Và phải chăng họ có thể
nghe xa chẳng khác nào như một cái máy thu thanh, và thấy xa dường như
một cái máy vô tuyến truyền hình? Đứng trước cái thế giới vô hình huyền
bí, vô tận bao la mà những khí cụ khoa học tối tân của thế kỷ 20 đã tiết
lộ cho chúng ta biết, thì người ta phải nhìn nhận sự thật của những
điều kể trên. Và nếu chúng ta nhìn lui về lịch sử loài người, thì chúng
ta thấy có nhiều trường hợp đặc biệt được ghi chép về những khả năng
nhận xét phi thường của một số người. Một trong những người đó là ông
Swedenborg, nhà bác học và toán học trứ danh của thế kỷ 18, đã có một
năng khiếu thần thông phi thường. Người ta được biết rõ một chuyện về
năng khiếu thần thông của ông, chuyện này đã được nhiều nhà tai mắt
chứng kiến trong số đó có nhà triết học Emmanuel Kant. Một buổi chiều
vào khoảng 6 giờ, ông Swedenborg đang ngồi dùng cơm với vài người bạn ở
thành phố Gothenburg, bỗng nhiên ông giựt mình và nói rằng một cơn hỏa
hoạn lớn đang xảy ra ở Stockholm là chỗ ông ở, cách đó độ 500 cây số.
Sau đó một lát, ông tuyên bố rằng ngọn lửa đã thiêu hủy ngôi nhà của một
người láng giềng và hăm dọa cháy lan đến ngôi nhà của ông. Đến 8 giờ,
cũng chiều hôm đó, ông cho biết, với một giọng nói đã trấn tĩnh, rằng
ngọn lửa đã được dập tắt ở khoảng cách nhà ông độ vài ba gian nhà khác.
Hai ngày sau, những lời của ông Swedenborg đã được xác nhận bằng những
lời tường thuật về cuộc hỏa hoạn, mà sự bộc phát nhằm đúng ngay vào lúc
ông Swedenborg giựt mình và có cảm giác đầu tiên về cơn tai biến này.
Đây không phải là trường hợp duy nhất: Tiểu sử của nhiều nhân vật tên
tuổi cũng đã ghi chép hàng trăm trường hợp tương tự, trong số đó có vài
người như Mark Twain, Abraham Lincoln, St. Saens,... Trong vài trường
hợp, chính những người bà con thân quyến của họ đã có lúc nhìn thấy
thình lình những hình ảnh lạ lùng về những sự việc xảy ra ở cách rất xa,
hoặc sẽ xảy ra trong nhiều tháng hay nhiều năm về sau, với đầy đủ từng
chi tiết. Nói về trường hợp ông Swedenborg thì năng khiếu thần nhãn của
ông từ đó trở nên một thứ giác quan mạnh mẽ phi thường và liên tục.
Trong phần nhiều những trường hợp khác, năng khiếu đó hình như chỉ biểu
lộ trong một lúc nhất định khi đương sự tạm thời rơi vào một trạng thái
xuất thần. Người Tây phương thường có khuynh hướng đón nhận những sự
việc kể trên với một thái độ hoài nghi và thậm chí với ít nhiều cử chỉ
khinh thường. Tuy nhiên, nay đã đến lúc mà người ta không thể nhìn xem
những hiện tượng đó một cách khinh rẻ như thế được nữa. Đối với những
người có một tinh thần cởi mở, saün sàng tìm hiểu những hiện tượng lạ
lùng, đối với những người thông hiểu các trào lưu khoa học và sự nhu cầu
của thế hệ thì bất cứ sự việc gì có liên hệ đến những khả năng lạ lùng
huyền bí của con người đều có tánh cách lý thú và có một tầm quan trọng
vào bậc nhất. Trong số những nhà thông thái có tầm kiến thức rộng rãi,
cho rằng những hiện tượng thần bí, siêu nhiên, đáng được nghiên cứu bằng
phương pháp khoa học, và đã ra công sưu tầm về những hiện tượng đó, có
bác sĩ J. B. Rhine, giáo sư trường Đại Học Dukẹ Từ năm 1930, bác sĩ
Rhine và những người cộng sự với ông đã nghiên cứu ráo riết về những
hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiếu Thần Nhãn trong con người.
Do những cuộc thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ và một phương pháp đặc
biệt, bác sĩ Rhine đã khám phá được một điều là trong phòng thí nghiệm,
có nhiều người đã biểu lộ những khả năng cảm xúc bằng giác quan siêu
đẳng, nói tóm tắt là biểu lộ những năng khiếu thần thông. Người ta có
thể nhìn thấy những chi tiết về phương pháp thí nghiệm và những kết quả
sưu tầm của bác sĩ Rhine trong quyển sách nhan đề "Tầm Hoạt Động Của Trí
Não" do chính ông xuất bản năm 1947. Những nhà sưu tầm khác như
Warcollier ở Pháp, Kotik ở Nga và Tichner ở Đức, với những phương pháp
thí nghiệm tương tự, cũng đã đi đến những kết luận giống như của bác sĩ
J. B. Rhinẹ Những bằng chứng khoa học hiển nhiên đã giải tán mọi điều
nghi ngờ về sự thật của những hiện tượng thần giao cách cảm và năng
khiều Thần Nhãn trên địa hạt tâm linh con người. Tuy thế, cho đến nay
khoa học chỉ mới chứng minh rằng hiện tượng Thần Nhãn là một điều có
thật. Người ta vẫn chưa tìm cách áp dụng năng khiếu đó trên địa hạt thực
tế. Nếu con người có được cái năng khiếu thần thông đó, nó giúp cho y
nhìn thấy được những gì xảy ra trong không gian mà không cần sử dụng đến
cặp mắt phàm, chẳng khác nào y như là một cái máy vô tuyến thu ảnh
(Television) thì chừng đó y đã có được một khí cụ mới và quan trọng để
thu hoạch những điều hiểu biết về con người và về vũ trụ. Trải qua nhiều
thế kỷ, con người đã làm được nhiều công trình lớn lao. Sự khôn ngoan
khéo léo của y đã giúp y chinh phục không gian và làm chủ được cõi giới
vật chất. Nhưng mặc dầu y đã có được sự khôn ngoan khéo léo đó, y vẫn là
một vật yếu đuối và bất toàn. Mặc dầu những sự chinh phục trên địa hạt
vật chất, y vẫn còn bất lực và bỡ ngỡ, lạc loài. Mặc dầu y đã thu hoạch
được những kết quả thành tựu mỹ mãn trên các lĩnh vực nghệ thuật, văn
hóa và khoa học, y vẫn chưa tìm ra ý nghĩa và mục đích của sự đau khổ mà
con người phải chịu từ khi sinh ra cho đến khi y từ giã cõi đời. Trong
thời gian qua, con người đã tìm ra những bí mật của hột nguyên tử. Có lẽ
nhờ những sự khám phá gần đây về những khả năng cảm xúc bằng giác quan
siêu đẳng của con người và những mối liên quan lạ kỳ giữa ý thức và tiềm
thức, y sẽ có thể tiến sâu vào lĩnh vực tâm linh huyền bí của chính
mình. Sau nhiều thế kỷ dọ dẫm tìm tòi, có lẽ sau cùng người ta sẽ tìm ra
những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí hiểm quan trọng của đời
người, những lý do vì sao y sinh ra ở cõi thế gian và mục đích cùng ý
nghĩa của sự đau khổ.





0 nhận xét:
Đăng nhận xét