Tết có ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong
cuộc sống người Việt. "Về quê ăn Tết" đã trở thành thành ngữ chỉ cuộc
hành hương về nơi cội nguồn tâm linh Việt.
Cung chúc phát tài
Phong tục
Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi
khi Tết đến lại trở về sum họp dưới mái ấm gia đình. Nhiều người muốn
được khấn vái trước bàn thờ, thăm lại ngôi mộ hay nhà thờ tổ tiên. Nhiều
người cũng muốn thăm lại nơi họ đã từng sinh sống với gia đình trong
thời niên thiếu. Đối với nhiều người xuất thân từ nông thôn, kỷ niệm
thời niên thiếu có thể gắn liền với giếng nước, mảnh sân nhà. "Về quê ăn
Tết" đã trở thành thành ngữ chỉ cuộc hành hương về nơi cội nguồn. Tuy
là Tết cổ truyền của dân tộc nhưng tuỳ theo mỗi vùng, mỗi miền của Việt
Nam hoặc theo những quan niệm về tôn giáo khác nhau nên có thể có nhiều
hình thức, nhiều phong tục tập quán (địa phương) khác nhau. Nhưng tất cả
đều có chung một điểm là có thể phân làm 3 khoảng thời gian, mỗi khoảng
thời gian ứng với những sự chuẩn bị, ứng với những lễ nghi hay ứng với
những hình thức thể hiện, đó là: Tất niên, Giao thừa và Tân niên.
Tất Niên
Lễ Tất niên được tiến hành vào
chiều ngày 30 Tết. Trong ngày 30 Tết, mọi nhà đều dọn dẹp nhà cửa để
chuẩn bị đón Tết. Đầu tiên phải lau chùi, trang hoàng, bày biện bàn thờ,
với hương, hoa tươi, đèn nến đầy đủ. Sau đó, trang hoàng nhà cửa với
hoa mai, cành đào, chậu quất.. . Sau khi công việc chuẩn bị cho gia đình
một cái Tết đầm ấm, thiêng liêng, vui vẻ xong thì gia chủ phải chuẩn bị
mâm cỗ cúng Tất niên. Mâm lễ cúng Tất niên thường có: hương hoa, đèn
nến, trầu cau; rượu; bánh chưng. Cỗ mặn với đầy đủ các món ăn ngày Tết
được chế biến thơm ngon, tinh khiết, bày biện đầy đặn, trang nghiêm.
Giao thừa (cúng Giao thừa, hay lễ Trừ tịch)
Sau khi cúng giao thừa xong, các gia chủ khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái) để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết. Ở Nam Bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất. Sau khi cúng xong, xem như Tết thực sự đã đến với gia đình.
Bàn thờ tổ tiên ngày Tết
Tân Niên
Xuất hành và hái lộc:
Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn
cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ
và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ
thần... Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có
tục bẻ lấy một "cành lộc" để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục
"hái lộc". Cành lộc là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục
hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Trời, Phật ban
cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền
Bắc, miền Trung không có tục hái lộc đầu năm nhờ thế mà cây cối trong
các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lộc biếc suốt cả mùa xuân.
Cũng vào dịp đầu Xuân, người có
chức tước khai ấn, học trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người
buôn bán mở hàng lấy ngày. Sau ngày mùng Một, dù có mải vui Tết cũng
chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mùng Một tốt thì chiều
mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì Giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo
không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai
thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ
gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân
vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi
chơi xuân.
Cúng bái ngày Tết
Trong gia đình người Việt, ngày Tết
thường chú trọng đến việc cúng bái, trang hoàng bàn thờ tổ tiên. Tuỳ
theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Bàn thờ là
nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng
trưng cho mặt trời, mặt trăng, bát hương chính giữa, phía sau hai cây
đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông
lớn. Cũng có nhà cắm "cành vàng lá ngọc" (một thứ hàng mã) với cầu mong
làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5, gấp 10 lần năm trước.
Ở giữa có trục "vũ trụ" là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn
lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái
đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả, phía trước bát hương để một
bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ
là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên
trời về hạ giới.
Cúng ông Công ông Táo:
Theo quan điểm của người Việt thì "ông Táo" là người ghi chép tất cả
những gì con người làm trong năm và báo cáo với Ngọc Hoàng. Ngoài ra,
ông Táo còn đại diện cho sự ấm no của một gia đình. Ông Táo được cúng
vào ngày 23 tháng chạp âm lịch hàng năm.
Trưng bày các loại tranh Tết cổ truyền: Phía trên bàn thờ thường treo một tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư... có khi là một chữ Nho (chữ Tân, Phúc, Đức...).
Câu đối Tết: Để
trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các bậc Nho học cho
tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo "câu đối đỏ"
nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay
vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên thường được gọi chung
là câu đối đỏ.
Đào đỏ, Mai vàng:
Miền Bắc thường chọn cành đào để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang
trí trong nhà. Theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma
và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh. Vì thế, màu đào đỏ thắm
là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân. Miền Trung và miền Nam lại hay
dùng mai vàng, màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao
sang.
Tết có ý nghĩa nhân văn trong
cuộc sống người Việt. Đây là dịp để người Việt trở về cội nguồn, sum họp
với người thân, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Đây
cũng là dịp để mọi người sống vui vẻ hơn, độ lượng hơn, bỏ qua xích mích
của năm cũ để mong năm mới cuộc sống hoà thuận hơn.





0 nhận xét:
Đăng nhận xét